A- A+
    (THO) - Lê Triệu, còn gọi là Cả Triệu, tự là Ôn Phủ, hiệu Liên Khê, quê xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa (Thanh Hóa) là một nhà nho không đỗ đạt, nhưng nổi tiếng hay chữ khắp vùng. Đương thời đã có câu ca về ông: “Nghệ Hai Hành, Thanh Cả Triệu”.
    Hai Hành là Nguyễn Hành (1771 – 1824), quê Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh, cháu gọi đại thi hào Nguyễn Du bằng chú. Ông này cũng không đỗ đạt, song đương  thời được xếp vào số nhà nho tài giỏi văn thơ.
 
    Trước kia phần lớn tác phẩm viết về Cả Triệu chỉ căn cứ vào các giai thoại dân gian. Gần đây nhờ phát hiện được tác phẩm “Liên Khê di tập” của ông, nên chúng ta mới biết chính xác Lê Triệu sinh năm 1771 và mất năm 1846. Trong số tác phẩm của Liên Khê có tập Nam hành tạp lục, ghi lại  một số bài thơ mô tả những địa danh ông đã đến tham quan, trong chuyến đi Nam, vào khoảng năm 1803 – 1804. Tác giả đã tới nơi đặt phần mộ Vua Quang Trung, sau khi mới bị Gia Long khai quật vào năm 1802 và sáng tác bài thơ “Kiến  Quang trung linh cữu” (Nhìn thấy linh cữu Vua Quang Trung) (1). Ngoài việc công khai ca ngợi khí phách của Anh hùng dân tộc Nguyễn  Huệ, tác giả còn cho hậu thế biết địa điểm đặt lăng mộ của Vua Quang Trung, mà Gia Long và các vua triều Nguyễn đã san bằng, xóa hết dấu tích. Song đáng tiếc là địa danh đó tác giả đã viết bằng chữ Nôm, có thể do ông nghĩ ra, nên đến nay mỗi người đọc một cách, do đó chưa giải mã được!
 
    Cũng trong tập “Nam hành tạp lục” chúng tôi còn thấy bài thơ mô tả về các hòn đảo ngoài biển Việt Nam về phía Nam, mà tác giả đã đặt chân  đến, nhan đề: “Khỏa đại tiểu nhị Trường Sa”. Dịch nôm là: “Chân đạp trên hai Trường Sa lớn nhỏ”. Nội dung bài thơ bằng chữ Hán, phiên âm như sau:
 
“Thuận môn dĩ Bắc Lý Hòa Nam
Nhất đái Trường Sa dĩ hải tham
Lục bạng sơn hành cung tọa thập
Thủy thông hải thứ nhật trình tam
Tường Ngư truy ký tiền triều sự
Thần Lãng truyền nghi thế tục đàm
Tâm định sở chi giai dị địa
Trường đồ vạn lý khoái dương phàm”.
Dịch nghĩa: “Từ cửa Thuận đi về phía
Nam Lý Hòa
Là một dải Trường Sa cùng với biển cả
Đi theo đường núi cạnh đường bộ ở
vào tọa độ cung vị 10
Đi theo đường biển thì hành trình
phải mất 3 ngày
Về triều trước có ghi chuyện cá voi biển
này cứu thuyền đắm
Còn truyền thuyết thần nhân đè sóng thế
tục còn nghi ngờ
Tự lòng mình thì coi đây là một vùng đất lạ
Trên con đường dài muôn dặm giương
buồm thong dong!”.
Dịch thơ: “Cửa Thuận đi về Nam Lý Hòa
Mịt mù biển cả với Trường Sa
Ven theo đường núi mười cung tọa
Vượt biển hành trình phải ba hôm
Chuyện cũ cá voi từng cứu chúa
Thần nhân truyền thuyết trấn phong ba
Nơi đây hai đảo Trường Sa lạ
Muôn dặm buồm giương vượt biển xa!”.
                           (Hồng Phi – HN dịch)
 
    Trong lịch sử văn học Việt Nam thời phong kiến, dường như không thấy có nho sĩ nào sáng tác về biển đảo của nước nhà. Cách đây hơn 200 năm, Lê Triệu là một trong số nhà nho hiếm hoi ra thăm biển đảo và đã sáng tác bài thơ để lại. Bài thơ “Khỏa đại tiểu nhị Trường Sa” của nhà nho Ôn Phủ, Liên Khê chẳng  những là một tác phẩm chữ Hán quý giá viết về biển đảo nước ta, mà còn là một bằng chứng từ xưa nói lên chủ quyền của Việt Nam về một số hòn đảo nằm trên biển Đông.
        Hương Nao
         (TP Thanh Hóa)

Ý kiến bạn đọc

Gửi ý kiến của bạn

 
Thông tin thời tiết
Tỉ giá ngoại tệ
Thông tin giá vàng
Chứng khoán