(THO) - Các anh chị trong “làng văn” Thanh Hóa nói rằng, “Thanh Hóa có một tay nhà thơ thợ mỏ”. Tôi nghe thấy lạ nên tò mò tìm hiểu. Hóa ra, “ tay nhà thơ thợ mỏ” đó chính là nhà thơ Lê Tuấn Lộc, quê xã Tân Khang, huyện Nông Cống, hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam.
Anh có thời gian dài làm lãnh đạo các mỏ Cromit Cổ Định Thanh Hóa, mỏ thiếc Bắc Lũng, Tuyên Quang... Anh đã cho ra đời 13 tập thơ, tập thơ thứ 13 có tựa đề: “Đi tìm vàng” vừa được Hội Nhà Văn Việt Nam tổ chức tọa đàm, đã biểu đạt những cung bậc tình cảm của tác giả trong việc thấu hiểu và cảm thông với cuộc sống những người thợ mỏ, chia sẻ với công nhân, với những “vỉa tầng” của đời sống người thợ để từ đó hình ảnh đơn sơ, nhưng cao quý của người thợ mỏ được khắc họa lại bằng những vần thơ hồn nhiên mà day dứt, mộc mạc mà thấm đẫm tính nhân văn trong từng trang thơ của người trong cuộc.
Lê Tuấn Lộc đã hòa mình vào đời sống của công nhân, anh luôn nhìn ra vẻ đẹp của thiên nhiên hùng vĩ nhưng cũng đầy khắc nghiệt, vẻ đẹp trong tâm hồn người thợ và đã khắc họa lại bằng những vần thơ lãng mạn mà lạc quan yêu đời:
Cứ mưa đi trời ạ, cứ mưa đi
Đất cứ trôi, chỉ cần Gôm ở lại.
...
Dù mai nắng ta lại đi chống hạn
Không hề chi! Thợ mỏ đã quen rồi.
(Thung lũng trong mưa)
Người thiếc gặp người than
Cười ran như ... Pháo nổ
Mặc kệ đời gian khổ
Ngang mày trăm phần trăm.
(Thợ mỏ gặp nhau)
Hiểu và sẻ chia những trái ngang của bao người thợ mỏ cũng là những dấu lặng đưa người đọc đến với những xúc cảm và suy ngẫm về thực tế cuộc sống, về một nghề đặc thù và hơn thế là những suy tư, day dứt trong thơ Lê Tuấn Lộc:
Về hưu tuổi đã đến đâu
...
Về quê lưng tuổi biết rồi ra sao
Nghề làm mỏ thật lao đao
Nay còn, mai hết, nay hao mai đầy
(Tiễn bạn về hưu)
Một nữ công nhân có chồng liệt sỹ, chị ở trong căn phòng tập thể cho đến khi tái giá với một người đàn ông cũng là thợ mỏ. Nhà thơ đi xa, khi trở về thăm, được biết, giờ đây chị vẫn một mình trong căn phòng nhỏ, vì người chồng thứ hai đã trở về quê tận Đồng Tháp Mười. Những vần thơ xa xót bật ra, ta nghe như tiếng thổn thức của một phận người.
Chị vẫn sống trong căn phòng lặng lẽ
Nắng thu sang dìu dịu một trời chiều.
...
Rồi chị lại lấy chồng thợ mỏ
Anh nhà ta quê mãi tận Tháp Mười.
...
Ngày thống nhất anh ấy về quê nội.
...
Nuốt nước mắt tôi ngồi im không nói
Thôi vui buồn ở lại một mình thôi.
(Chị Sàng)
Nhà thơ có nhiều kỷ niệm gắn với vùng mỏ Cromit Cổ Định Thanh Hóa, đó là những kỷ niệm trong chặng đường công tác gian truân trên những cánh rừng mênh mông, những dốc đá cheo leo, hay những kỷ niệm của những ngày khó khăn, vất vả... Tuy nhiên, khi đọc những vần thơ này chúng ta thấy hiện lên ánh màu lung linh của niềm vui và hy vọng.
Thả ba lô quặng trên lưng
Chất thêm hương cỏ, hương rừng mang theo
Để mai vượt suối băng đèo
Cỏ xanh lại nhớ mà theo ta cùng.
(Cỏ mùa xuân)
Tập thơ “Đi tìm vàng” còn nhiều bài thơ ghi lại những kỷ niệm của các anh, các chị công nhân mỏ không chỉ hay ở sự vật, hiện tượng có thật mà còn để lại những chi tiết ấn tượng cho người đọc trong những khoảnh khắc liêu trai, mơ mộng và rất lạc quan, yêu đời:
Đêm giao thừa pháo nổ inh tai
Tưởng chỉ có trên trời và dưới thợ
Cánh lính trẻ mừng xuân cười như phá
Bác thợ già vui quá khóc hu hu.
Chưa bao giờ tôi nghĩ chuyện chia tay
Bởi áo thợ với mình thân thiết quá
Bên đống lửa đón xuân vui kỳ lạ
Thợ mỏ cười muốn đổ cả giàn khoan.
(Xuân ở mỏ)
Khi gấp tập thơ lại, người đọc vẫn cảm nhận những âm thanh, khung cảnh và các nhân vật trong toàn bộ tập thơ và đặc biệt trong bài thơ “Xuân ở mỏ” như còn hiển hiện đâu đây. Điều thành công của tập thơ “Đi tìm vàng” là cảm xúc tâm trạng thấu hiểu, cảm thông cuộc đời người thợ mỏ của tác giả chìm lắng sau những ngôn từ mang tính tự sự. Đây là tập thơ viết về người thợ mỏ của một người trong cuộc. Tuy tính nghệ thuật chưa đạt đến độ tinh tế, nhưng những con người, hoàn cảnh cụ thể lại đem đến cho tập thơ vẻ đẹp riêng biệt không lẫn vào đâu được. Mong rằng nhà thơ Lê Tuấn Lộc sẽ còn có những bài thơ đặc sắc hơn trong những lần xuất bản tới, vì anh luôn là người “Đi tìm vàng” cho cuộc đời mình.
Lan Anh
Ý kiến bạn đọc