A- A+
Hồ Chủ tịch tại Đại hội III Hội Nhà báo Việt Nam (9 - 1962). Ảnh:Tư liệu
(THO) - Từ những năm đi học trong vùng kháng chiến, tôi luôn ao ước được trông thấy Bác, dù ở cách xa bao nhiêu cũng được. Vào giữa năm 1954, một đêm đi học về khuya, đám học sinh bị ngăn lại bên bờ sông không cho xuống phà như mọi ngày. Người chống phà quen thuộc nói nhỏ:
- Có Cụ và Đại tướng qua sông.
 
Chúng tôi không biết thật hư ra sao vì phà đã cập bến bên kia. Cả đêm ấy, đám học sinh chúng tôi không ngủ, kể chuyện về Bác Hồ mà chúng tôi đã nghe hay đã đọc và ao ước có dịp gặp Người. Sau này tôi sửng sốt biết tin: Đúng đêm đó Bác Hồ từ Việt Bắc về thăm Thanh Hóa. Lần đầu tiên tôi trông thấy Bác, bằng xương bằng thịt vào ngày đón Bác đi thăm các nước xã hội chủ nghĩa trở về tháng 5-1955. Mặc dù đứng ở rất xa. Trông không rõ lắm nhưng lúc thấy Bác bước ra lễ đài, tôi nhảy lên sung sướng reo hò. Như vậy tôi cũng đã thấy Bác Hồ như mơ ước từ tuổi thơ. 
 
Năm 1957, tôi đang công tác tại tòa soạn báo Nhân Dân, một hôm đồng chí Hoàng Tùng – Tổng biên tập – bảo tôi đi mời đồng chí Trưởng phòng Hành chính quản trị đến để bàn chuyện tiếp khách. Ngồi gần đó tôi nghe lỏm được biết là Bác Hồ đến thăm. Tôi hồi hộp suốt mấy ngày liền không dám đi xa cơ quan, sợ bất thần Bác đến lại không được đón. Đồng chí trưởng phòng hành chính có sơ xuất là khi dặn anh em dọn vệ sinh để đón khách lại nói vui:
 
- Dọn cho kỹ nhà bếp, nhà ở nhé. Khách hay kiểm tra những nơi này...
 
Thế là anh em reo lên “Bác Hồ sắp đến rồi”. Cả cơ quan đồn ầm lên. Cục bảo vệ biết tin không bố trí Bác đến nữa. Chúng tôi trách lẫn nhau, trách ông Trưởng phòng Hành chính quản trị, lòng buồn mênh mang.
 
Một buổi sáng, trong lúc chẳng còn ai còn tin rằng Bác sẽ đến thì đồng chí Hoàng Tùng gọi tôi: - Chú ra bảo vệ cửa ra vào để đón khách. Tôi chạy vội ra cổng thì từ xa đã thấy mấy chiếc xe đang lao tới. Ngoài chiếc xe “commăngca”, có hai chiếc xe nhỏ màu sẫm đi vào. Từ trong chiếc xe màu nâu, Bác bước ra giơ tay chào mọi người. Thế là tất cả ùa lại vây quanh Bác. Các đồng chí lãnh đạo mời Bác đi thăm cơ quan. Theo thông lệ Bác đi thăm nhà ăn, nhà ở của anh em. Chúng tôi nhảy về phòng đứng chờ. Đến trước mặt tôi, Bác hỏi:
 
- Cháu làm gì ở đây?
 
- Thưa Bác, cháu làm nhân viên phòng thư ký tòa soạn.
 
Rồi Bác quay sang hỏi chuyện đồng chí Trịnh Hải (phóng viên nhiếp ảnh). Thế là tôi và đồng chí Trịnh Hải cùng đồng chí Quang Đạm, Trưởng phòng thư ký tòa soạn có một tấm ảnh chụp chung với Bác hôm đó.
 
Bác nói chuyện với anh em. Tôi còn nhớ đại ý hai chuyện có liên quan đến nghề nghiệp và đạo đức của chúng ta. Bác nói về việc đính chính sai sót trên báo. Bác nói “In sai trang nào phải đính chính ở trang đó, người ta mới biết. Còn đính chính cứ “nhét” vào trang cuối hoặc các trang khác thì có người không chú ý xem các trang này làm sao biết mà đọc lại cho đúng”. Bác nói đùa: “Có bao giờ bị lọ ở mặt mà cứ chùi ở mông, thì làm sao sạch được”.
 
Rồi Bác kể chuyện chiếc đồng hồ: Một hôm, cái kim nói với các chữ số: “Mình chạy hoài mệt quá, thôi hôm nay cậu chạy thay đi”. Hoặc một hôm đó, bộ máy phía trong lại bảo với mặt đồng hồ: “Cậu ở ngoài mãi, cho mình ra ngoài một chút”. Như vậy có còn là đồng hồ nữa không? Ai có việc người đó, đừng tị nạnh.
 
Anh em đều cười thoải mái. Ví dụ, Bác đưa ra đơn giản và rất sâu sắc. Dạo ấy tôi cứ thắc mắc về chuyện chưa được đi làm phóng viên, cứ phải ở nhà lo việc dò bài, sửa bài. Nghe Bác nói, tôi giật mình: “Liệu Bác có biết chuyện mình đang thắc mắc không?”. Từ đó tôi yên lòng với công việc cơ quan giao.
 
Có một việc tôi nhớ khá lâu: đang nói chuyện bỗng Bác hỏi: “Có anh em công nhân nhà in chưa?”. Đồng chí Tổng biên tập thưa: “Vì Bác đến bất ngờ nên anh em đến không kịp”. Thế là Bác bảo đi gọi. Đồng chí Tạ Quang Chiến, thư ký của Bác kêu tôi lên xe đi mời công nhân nhà in. Ngồi lên xe rồi, tôi mới giật mình: xe tôi đang ngồi là xe đưa Bác đến. Lúc trở về tôi không dám vào phòng họp, cứ đứng bên xe lúng túng. Đồng chí Chiến hỏi, tôi ngập ngừng nói:
 
- Anh cho bảo vệ kiểm tra lại xe, vì em ngồi trên đó nãy giờ, lỡ có chuyện gì...
 
Đồng chí cười bảo tôi:
 
- Không phải chuyện của chú, vào nghe Bác nói chuyện đi.
 
Tôi cứ lo hoài, mãi đến hết ngày hôm đó mới yên tâm. Bác nói chuyện xong, anh em đề nghị Bác cho chụp ảnh chung. Tôi và Đào Xuân Tích (bây giờ là bác sĩ ở Hà Nội), mỗi đứa giữ một cánh tay Bác, không cho anh em chen vào. Trong lúc mọi người lo kiếm chỗ thì tôi và Đào Xuân Tích nghiễm nhiên đứng cạnh Bác. Tụi tôi sờ áo, rờ vai Bác. Ôi! Bác gầy quá. Và đúng là chiếc áo mà Bác mặc đã xuống lai như người ta đồn. Thế là lần thứ hai, tôi được đứng ngay bên Bác. Bức ảnh chụp hôm ấy trong đó có hai đứa chúng tôi mặt kề hai bên mái tóc Bác Hồ bây giờ treo ở phòng truyền thống của báo Nhân Dân.
 
Mấy năm sau, tôi làm phóng viên theo dõi ngành Thương nghiệp. Có một lần trên báo đăng bài phê bình cửa hàng ăn uống ga Hàng Cỏ phục vụ nhân dân không tốt, ký tên T.L. Có anh ở Sở thương nghiệp Hà Nội không biết T.L là bút hiệu của Bác, đã gọi điện phê bình gay gắt “anh T.L nào đó đã viết không đúng”. Khi biết được T.L là Bác thì bên Sở thương nghiệp đã viết lời xin lỗi. Một tháng sau tôi xuống cửa hàng viết bài để báo cáo với Bác: cửa hàng đã sạch sẽ và phục vụ tốt hơn.
 
Năm 1959, tôi xung phong làm giáo viên bình dân học vụ, tham gia xóa nạn mù chữ cho bà con buôn bán nhỏ trong chợ Hàng Da (Hà Nội). Những người lao động ấy, buổi trưa quây quần bên tôi để học. Ba tháng sau bà con đã biết chữ. Tôi được tặng danh hiệu “Chiến sĩ Bình dân học vụ” và được tặng một tấm hình của Bác có chữ ký của Người. Tấm ảnh quý ấy tôi vẫn giữ cho tới hôm nay.
 
Tháng 9-1960, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III. Tôi và đồng chí Trần Quỳnh được phân công đi phụ cho anh Thép Mới là phóng viên chính. Hàng ngày chúng tôi được đón Bác vào đại hội. Có buổi trưa, Bác nghỉ tại Đại hội trong phòng kế bên ban tổ chức, nơi chúng tôi hay đến làm việc. Ngày cuối cùng của đại hội, Bác và các đồng chí lãnh đạo chụp ảnh chung với các phóng viên trong nước và ngoài nước, với anh em phục vụ. Có một lần vừa sợ vừa mừng khi tôi được nói điện thoại với Bác đến hai câu ngắn. Ở báo Nhân Dân có một đường điện thoại đi thẳng đến Trung ương. Một buổi sáng tôi đang vừa hát vừa đọc báo thì có điện thoại reo. Như thường lệ, tôi hỏi:
 
- Báo Nhân Dân đây. Xin lỗi ai đang ở đầu máy?
 
- B. đây! Gọi chú Tùng nói chuyện với B. Tôi bàng hoàng – giọng Bác Hồ ở đầu dây nói. Để giữ bí mật, Bác vẫn xưng là B (Bê) với anh em trong các cơ quan xung quanh Trung ương và anh em cũng gọi Bác như vậy.
- Thưa B., B. chờ một chút để cháu đi gọi anh Hoàng Tùng.
 
- Mấy hôm sau, Hưng Yên gởi biếu Bác mấy chùm nhãn quý. Bác chia cho báo Nhân Dân một ít. Tụi tôi chẳng ai ăn, cất trái nhãn trong phòng để làm kỷ niệm cho tới tận lúc khô queo. Dạo đó, Bác vẫn giữ tình cảm như hồi ở Việt Bắc khi Bác sống chung với anh em ở báo Nhân Dân, cơ quan Trung ương Đảng. Sau này, các cơ quan Trung ương phát triển lớn, người đông, chúng tôi ít được quà của Bác. Năm 1964, tôi về miền Nam làm phóng viên chiến tranh. Ao ước cuối cùng của đoàn chúng tôi là trước khi lên đường được gặp Bác. Nhưng đến giờ chót, tôi không đến được. Đồng chí Lê Duẩn đã đem lời thăm của Bác gởi đến đoàn. Và chúng tôi lên đường, trong ba lô mỗi người đều có hình ảnh Bác. Chúng tôi như có thêm sức mạnh để vượt qua khó khăn ác liệt. Mỗi lần Tết đến, chúng tôi đều trào nước mắt khi nghe thơ Người. Tháng 2-1968, từ mặt trận Sài Gòn, chúng tôi trở về cơ quan, lòng nặng trĩu! Ta đã không thắng ngay trận đầu. Khi nói về quyết tâm của ta, một đồng chí lãnh đạo phổ biến: “Bác Hồ nóng lòng muốn về Nam để trực tiếp chỉ đạo trận đánh cuối cùng này. Bác đã tập đeo đá, đi bộ để chuẩn bị sức khỏe. Bộ Chính trị xin Bác yên lòng, sẽ quyết tâm chỉ đạo cách mạng miền Nam giành thắng lợi”. Thế rồi cách mạng miền Nam gặp khó khăn. Đêm đêm chúng tôi ngồi bên ngọn đèn nhỏ, trào nước mắt, biết rằng Bác rất buồn vì cách mạng miền Nam không giành thắng lợi sớm như đã hứa.
 
Năm 1969, tôi đang nằm bệnh viện với những cơn sốt rét dữ dội thì được tin Bác mất. Từ bệnh viện tôi đi thẳng xuống các đơn vị bộ đội để viết bài. Tại Trường huấn luyện H12 - tiền thân Trường Lục quân II bây giờ - anh em đã lập bàn thờ Bác khói nhang nghi ngút. Cả đơn vị chưa có ai được gặp Bác, nên anh em yêu cầu tôi kể về Bác. Tôi vừa khóc vừa kể về những điều tôi biết, những kỷ niệm của tôi về Bác.
 
Một đơn vị ở gần đó đến mời tôi nói chuyện. Đó là một đơn vị đặc biệt gồm những đồng chí bộ đội bị lao, bị cùi đang điều trị. Những người đã khóc vì bệnh tật của mình, đã khóc lớn hơn khi hay tin Bác mất. Tôi đã đến với những đồng chí ấy bình thản như đến với người khỏe mạnh, và chiều hôm đó tôi đã kể cho những đồng chí ấy nghe những chuyện về Bác Hồ. Buổi tối, tôi đến gặp đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam để phỏng vấn. Chị Ba Định là người đã gặp Bác năm 1946 trong lần ra xin súng cho miền Nam và sau này trong dịp đồng chí Nguyễn Chí Thanh ra Bắc, chị đã gởi tặng Bác tấm khăn rằn. Chị khóc vật vã, không thể nào trả lời tôi. Chị hỏi đi hỏi lại một câu:
 
- Tại sao năm 1946 ở văn phòng của Bác không có ai chụp hình? Nếu có tôi đã có một tấm hình với Bác.
 
Và, tôi đã ghi lại những câu rời rạc của chị Ba để viết bài đăng báo...
 
Ba tháng sau ngày miền Nam giải phóng, tôi được đi theo đoàn Đại biểu Mặt trận, Chính phủ lâm thời miền Nam ra Bắc dự khánh thành Lăng Bác và dự Quốc khánh. Sau lễ ở Hội trường Ba Đình, các đại biểu vào viếng Lăng Bác. Tôi đã trốn ban tổ chức vào viếng đến ba lần. Một lần đi với đoàn Mặt trận Chính phủ miền Nam. Một lần đi với các nhà báo. Tôi đã khóc cả ba lần vì đâu có ngờ ngày trở lại miền Bắc, trở về Hà Nội thì Bác đã không còn.
 
Hôm vào thăm nhà Bác, tôi bàng hoàng sung sướng vì một vinh dự quá to lớn đối với đời mình: trên bàn phòng ngoài của Bác là mấy cuốn truyện Anh hùng quân giải phóng miền Nam, Bác đang đọc dở trước lúc đi xa – trong đó có cuốn “Rừng núi diệt thù” (Anh hùng Vai) của tôi viết năm 1965 ở miền Nam. Tôi định cầm cuốn sách lên xem thì đồng chí Trần Viết Hoàn – Phó giám đốc Viện Bảo tàng nói: - Những cuốn sách này có dấu tay của Bác được giữ làm kỷ niệm. Chúng tôi sẽ đưa những cuốn khác vào thay thế. Sang phòng thứ hai thì một điều sung sướng nữa đến với tôi: trước khi mất, Bác đang đọc dở cuốn tạp chí bằng tiếng Anh viết về cuộc Tổng tấn công và nổi dậy ở miền Nam. Trong cuốn đó có bài “Chú bé Sài Gòn” tôi viết đầu tháng 2-1968 và đăng trên báo Nhân dân 20 ngày sau đêm Tổng tấn công Mậu Thân. Nhà văn Trần Đình Vân đi cùng tôi đã nói: - Cuộc đời làm báo của cậu, chỉ cần có cuốn sách “Anh hùng Vai” và bài báo “Chú bé Sài Gòn” trên bàn Bác Hồ là toại nguyện lắm rồi. Mong gì hơn nữa...
 
Tôi vẫn còn nhiều mong ước, mong được viết ngày càng nhiều và càng tốt hơn. Mong được mãi mãi là người viết báo đi theo con đường của Bác. 
Đinh Phong

Ý kiến bạn đọc

Gửi ý kiến của bạn