A- A+
 I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN:
 
    1. Vị trí địa lý kinh tế
    
    Thanh Hóa là một tỉnh có diện tích tự nhiên 11.106,09km2, nằm ở cực Bắc Trung bộ Việt Nam, cách Thủ đô Hà Nội 150 km về phía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560km.
     
    Phía Bắc giáp với ba tỉnh Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình, phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào), phía Đông là Vịnh Bắc bộ với chiều dài bờ biển 102km.

    Tọa độ địa lý: 19o - 18 - 20o40 vĩ độ Bắc

                        104o22 - 106o4 kinh độ Đông.

 

    Thanh Hóa nằm ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ và Nam Bộ, có một vị trí rất thuận lợi:

 

    - Đường sắt và Quốc lộ 1A, Quốc lộ 10 chạy qua vùng đồng bằng và ven biển, đường chiến lược 15A, đường Hồ Chí Minh xuyên suốt vùng  trung du và miền núi, tạo điều kiện thuận lợi giao lưu với các tỉnh và thành phố khác trong cả nước.

 

    - Quốc lộ 45, 47 nối liền các huyện đồng bằng ven biển với vùng miền núi, trung du của tỉnh, Quốc lộ 217 nối liền Thanh Hóa với tỉnh Hủa Phăn của nước bạn Lào.

 

    - Hệ thống sống ngòi của tỉnh phân bố khá đều với 4 hệ thống sông đổ ra biển bằng 5 cửa lạch chính. Cảng biển Nghi Sơn là cửa ngõ của Thanh Hóa trong giao lưu quốc tế và khu vực.

 

    - Sân bay Sao Vàng có khả năng mở rộng kết hợp dịch vụ dân dụng.

 

    Thanh  Hóa là tỉnh nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động  từ khu vực trọng điểm kinh tế phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh) và những tác động từ các vùng trọng điểm kinh tế Trung bộ và Nam bộ nên có một vị trí rất thuận lợi trong giao lưu với các  tỉnh, thành phố trong cả nước và giao lưu quốc tế.

 
    2. Địa hình
 

    Địa hình Thanh Hóa đa dạng, thấp dần từ Tây sang Đông, chia làm 3 vùng rõ rệt:

 

    - Vùng núi và trung du, chiếm diện tích trên 8.000km2 (2/3 diện tích tự nhiên), gắn liền với hệ núi cao phía Tây Bắc và  hệ núi Trường Sơn phía Nam, gồm 11 huyện Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hóa, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc, Thường Xuân, Như Xuân,  Như Thanh, Cẩm Thủy, Thạch Thành. Độ cao trung bình vùng núi 600 -700m, độ dốc trên 25o. Vùng trung du có độ cao trung bình  150 - 200m, độ dốc từ 15 - 20o.

 

    - Vùng đồng bằng, được bồi tụ bởi  các hệ thống sông (sông Mã, sông Chu, sông Yên, sông Hoạt...), bao gồm các huyện Thọ Xuân, Yên Định, Thiệu Hóa, Đông Sơn, Triệu Sơn, Nông Cống, Vĩnh Lộc, Hà Trung, TP Thanh Hóa, thị xã Bỉm Sơn. Độ cao trung bình từ 5 - 15m, xen kẽ có các đồi thấp và núi đá vôi độc lập. Đồng bằng sông Mã có diện tích lớn thứ ba sau đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng.

 

    - Vùng ven biển, từ Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương đến Tĩnh Gia, chạy dọc theo bờ biển là các cửa sông Hoạt, sông Mã, sông Yên, sông Bạng. Vùng đất cát ven biển có độ cao trung bình 3 - 6m. Bờ biển Thanh Hóa dài trên 100km, tương đối bằng phẳng, có bãi tắm Sầm Sơn nổi tiếng, có những vùng đất đai rộng lớn thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản và phát triển các khu công nghiệp, dịch vụ kinh tế biển.

 
    3. Khí hậu
 

    Thanh Hóa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt.

 

    - Lượng mưa trung bình hàng năm 1.600 - 2.300mm, mỗi năm có khoảng 90 - 130 ngày mưa. Độ  ẩm tương đối 85 - 87%, số giờ nắng bình quân 1.600 - 1.800 giờ. Nhiệt độ trung bình 23oC - 24oC, giảm dần khi lên vùng núi cao.

 

    - Mùa đông hướng gió thịnh hành là Tây bắc và Đông bắc, mùa hè gió Đông và Đông nam.

Đặc điểm khí hậu thời tiết Thanh Hóa: Lượng mưa lớn, nhiệt độ cao, ánh sáng  dồi dào là điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.

 

    II. TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

 
    1. Tài nguyên đất
 

    Diện tích tự nhiên 1.110.609 ha, của Thanh Hóa gồm 8 nhóm đất chính, các nhóm đất có diện tích tương đối lớn gồm:

 

    - Nhóm đất xám 717.245 ha chiếm 64,6% diện tích tự nhiên, phân bố chủ  yếu ở các huyện miền núi, trung du Quan Hóa, Bá Thước, Như Xuân, Thường Xuân, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Thạch Thành, Lang Chánh. Thích hợp cho phát triển cây lâm nghiệp, cây công nghiệp và cây ăn quả.

 

    - Nhóm đất đỏ diện tích 37.826 ha, chiếm 3,4%, phân bố ở độ cao trên 700m ở các huyện Quan Hóa, Lang Chánh, Thường Xuân, Như Xuân, thích hợp cho trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, phát triển cây rừng.

 

    - Nhóm đất phù sa: diện tích 191.216 ha, chiếm 17,2% diện tích tự nhiên phân bố chủ yếu ở các vùng đồng bằng và ven biển, thích hợp cho trồng lúa, màu, cây công nghiệp ngắn ngày.

 

    - Nhóm đất mặn và đất cát diện tích 41.700 ha, chiếm 3,75% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở vùng ven biển, thích hợp cho trồng cói, trồng rừng, hoa màu và nuôi trồng thủy sản.

 

    Trong tổng diện tích tự nhiên, đất nông nghiệp 239.842 ha; đất lâm nghiệp đã có rừng 436.360 ha; đất chuyên dùng 67.111 ha, đất ở 19.292 ha; đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá 348.003 ha.

 
    2. Tài nguyên rừng
 

    Thanh Hóa là một trong những tỉnh có tài nguyên rừng lớn với diện tích đất có rừng  436.360 ha, trữ lượng khoảng 15,84 triệu m3 gỗ, hàng năm có thể khai thác 35.000 - 40.000m3. Rừng Thanh Hóa chủ yếu là rừng cây lá rộng, có hệ thực vật phong phú, đa dạng về họ, loài. Gỗ quí hiếm có lát, pơ mu, sa mu, lim xanh, táu, sến, vàng tâm, dổi, de, chò chỉ. Các loại thuộc họ tre nứa gồm có: luồng, nứa, vầu, giang, tre, ngoài ra còn có: mây, song, dược liệu, quế, cánh kiến đỏ... các loại rừng trồng có luồng, thông nhựa, mỡ, bạch đàn, phi lao, quế, cao su. Nhìn chung vùng rừng giàu và trung bình chủ yếu là rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, phân bố trên các dãy núi cao ở biên giới Việt - Lào. Thanh Hóa là tỉnh  có diện tích luồng lớn nhất trong cả nước với diện tích trên 50.000 ha.

 

    Rừng Thanh Hóa cũng là  nơi quần tụ và sinh sống của nhiều loài động vật như: Voi, hươu, nai, hoẵng, vượn, khỉ, lợn rừng, các loài bò sát và các loài chim... Đặc biệt ở vùng Tây nam của tỉnh có Rừng Quốc gia Bến En, nơi tồn trữ và bảo vệ các nguồn gien, động vật, thực vật quý, đồng thời là một điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách.

 
    3. Tài nguyên biển
 

    Thanh Hóa có trên 100 km bờ biển hình cánh cung và vùng lãnh hải rộng lớn 23.000km2, chịu ảnh hưởng chi phối  bởi các dòng hải lưu nóng và lạnh tạo thành những bãi cá, bãi tôm có trữ lượng lớn. Dọc bờ biển có 5 cửa lạch chính: Lạch Sung, Lạch Trường, Lạch Hới, Lạch Bạng, Lạch Ghép, thuận lợi cho tàu thuyền đánh cá ra vào, đây cũng là những trung tâm  nghề cá của tỉnh. Ở vùng cửa lạch là những bãi bồi bùn cát rộng hàng ngàn ha để nuôi trồng hải sản, trồng cói, trồng cây chắn sóng và sản xuất muối. Diện tích nước mặn ở vùng biển đảo Mê, Biện Sơn có thể nuôi cá song, trai ngọc, tôm hùm và hàng chục ngàn ha nước mặn ven bờ để nuôi nhuyễn thể vỏ cứng (ngao, sò...).

 

    Theo số liệu điều tra, vùng biển Thanh Hóa có trữ lượng khoảng 100.000 - 120.000 tấn hải sản, trong đó nguồn lợi cá nổi trữ lượng khoảng 50.000 - 60.000 tấn, nguồn lợi cá đáy khoảng 40.000 - 50.000 tấn và các loại hải sản khác như tôm, mực... khả năng khai thác hàng năm 60.000 - 70.000 tấn với nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao.

 
    4. Tài nguyên khoáng sản
 

    Thanh Hóa là một trong số ít các tỉnh ở Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng, có tới 250 điểm với 42 loại khoáng sản khác nhau, nhiều loại có trữ lượng lớn so với cả nước như: đá ốp lát (trữ lượng 2 - 3 tỷ m3), đá vôi làm xi măng (trữ lượng trên 370 triệu tấn), sét làm xi măng (trữ lượng 85 triệu tấn), crôm (trữ lượng khoảng 22 triệu tấn), secpentin (trữ lượng 15 triệu tấn), đôlômit (trữ lượng 4,7 triệu tấn), ngoài ra còn có vàng sa khoáng, quặng sắt...

 
    5. Tài nguyên nước
 

    Thanh Hóa có 4 hệ thống sông chính là sông Hoạt, sông Mã, sông Bạng, sông Yên; các sông thuộc hệ thống sông Mã là sông Chu, sông Bưởi, có tổng chiều dài 881 km, tổng diện tích lưu vực là 39.756 km2; tổng lượng nước trung bình hàng năm 19,52 tỷ m3. Mặt khác, sông suối Thanh  Hóa chảy qua nhiều vùng địa hình phức tạp, tạo ra khả năng phát triển thủy điện khá lớn. Riêng sông Mã, trữ lượng điện năng  lý thuyết đạt tới 12 tỷ kwh. Nước ngầm ở Thanh Hóa cũng rất phong phú về trữ lượng và chủng loại bởi có đầy đủ các loại đất đá trầm tích, biến chất, mác ma và phun trào. Với trữ lượng nước trên có thể bảo đảm cho nhu cầu phát triển sản xuất và đời sống.

 

    III. HỆ THỐNG CÁC NGÀNH DỊCH VỤ

 

    Ngân hàng: Bên cạnh Ngân hàng Nhà nước, hệ thống ngân hàng thương mại trên địa  bàn tỉnh gồm Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Đầu tư Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT, Ngân hàng Chính sách. Hiện nay, các ngân hàng đang thực hiện đổi mới và đa dạng hóa các hình thức  huy động vốn, áp dụng các công  nghệ tiên tiến trong việc chuyển  phát nhanh, thanh toán liên ngân hàng, thanh toán quốc tế bảo đảm an toàn và hiệu quả. Tổng nguồn vốn huy động tín dụng hàng năm đạt trên 3.000 tỷ đồng, tổng dư nợ năm 2002 đạt trên 4.000 tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2001.

 

    Bảo hiểm: Là tỉnh có dân số đông thứ hai cả nước, Thanh Hóa được xác định là thị trường tiềm năng ở tất cả các loại hình bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Hiện tại trên địa bàn tỉnh  có năm công ty bảo hiểm được cấp phép hoạt động bảo hiểm, đó là Bảo Việt, Công ty  Bảo hiểm nhân thọ, Bảo Minh, Bảo hiểm Bưu điện và Bảo hiểm dầu khí. Các công ty bảo hiểm trên địa bàn đang không ngừng mở rộng thị trường, tạo sự cạnh tranh lành mạnh nhằm mục đích nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng.

 

    Thương mại dịch vụ: Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, Thương mại Thanh Hóa đã có bước phát triển quan trọng. Trên địa bàn đã hình thành hệ thống bán  buôn, bán lẻ với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, tạo điều kiện lưu thông thuận tiện hàng hóa phục vụ nhu cầu đời sống, sinh hoạt và sản xuất của nhân dân. Kim ngạch xuất  khẩu tăng đều qua các năm, năm 2000 đạt trên 30 triệu USD, năm 2001 đạt 43 triệu USD và năm 2002 đạt 58 triệu USD. Thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, bên cạnh thị trường Nhật Bản, Đông Nam Á, một số doanh nghiệp đã xuất khẩu sang Mỹ, Châu Âu.  Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của tỉnh là: nông sản (lạc, vừng, dưa chuột, hạt kê, ớt, hạt tiêu, cà phê...), hải sản (tôm, cua, mực khô, rau câu), hàng da giày, may mặc, hàng thủ công mỹ nghệ (các sản phẩm mây tre, sơn mài, chiếu cói...), đá ốp lát, quặng crôm...

 

    Du lịch: Thanh Hóa là tỉnh có tiềm năng về du lịch. Hiện nay, ngành du lịch Thanh Hóa  có hàng ngàn phòng nghỉ đủ tiêu chuẩn đón khách quốc tế, trung bình hàng năm đón tiếp gần 500.000 lượt khách (trong nước và nước ngoài) đến tham quan nghỉ mát.

 

    Thanh Hóa có những di tích lịch sử và  danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: Khu Di tích Lam Kinh (Thọ Xuân), Thành Nhà Hồ (Vĩnh Lộc), đền Bà Triệu (Hậu Lộc), Hàm Rồng - Nam Ngạn (thành phố Thanh Hóa), Sầm Sơn, Vườn Quốc gia Bến En, Động Từ Thức, suối cá Cẩm Lương... Với tiềm năng du lịch phong phú và đa dạng, có lợi thế về vị trí địa lý, giao thông thuận lợi và với lòng hiếu khách của con người xứ Thanh - Thanh Hóa đã và sẽ là điểm đến  rất hấp dẫn đối với du khách mọi miền đất nước và quốc tế.

 
    IV. NGUỒN NHÂN LỰC
 
    1. Dân số
 

    Dân số Thanh Hóa đến năm 2002 là 3.620.000 người, trong đó nữ chiếm 52,1%, nam chiếm 47,9%. Thanh Hóa là tỉnh có 7 dân tộc anh em sinh sống, trong đó người Kinh chiếm tỷ trọng lớn nhất (84,75%), Mường (8,7%), Thái (6,0%) và các dân tộc khác như H’mông, Dao, Thổ, Hoa. Các dân tộc ít người sống  chủ yếu ở các huyện vùng núi cao và biên giới.

 
    2. Lao động
 

    Dân số trong độ tuổi lao động có khoảng  1.984.000 người, chiếm tỷ lệ 54,60% dân số toàn tỉnh. Lao động xã hội đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân khoảng 1.503.000 người, trong đó số lao động đang làm việc trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp là chủ yếu (chiếm  81,43%). Nguồn lao động của Thanh Hóa tương đối trẻ, có trình độ học vấn khá, lao động dưới 30 tuổi chiếm tỷ trọng cao. Lực lượng lao động đã qua đào tạo 22%, trong đó có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm  4,5%, trung học 4,2%, công nhân kỹ thuật 13,3%.

 

    V. HỆ THỐNG KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT

    Hệ thống giao thông - vận tải

    Tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua địa bàn Thanh Hóa dài 92km với 9 nhà ga, thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa và hành khách.

 

    Toàn tỉnh có tổng chiều dài đường ô tô trên 7.700km, 98% số xã có đường ô tô đến các khu trung tâm. Thanh Hóa có các quốc lộ quan trọng chạy qua là Quốc lộ 1A (dài 100 km); quốc lộ 15A (dài 178 km); quốc lộ 217 (dài 194 km), quốc lộ 10 (dài 43 km), quốc lộ 45 (127 km), quốc lộ 47 (dài 61 km), đường Hồ Chí Minh (dài 130 km).

 

    Thanh Hóa có hơn 1.700 km đường sông, trong đó có 360 km đã được khai thác cho các loại phương tiện  có sức chở từ 20 đến 1.000 tấn. Cảng Lễ Môn cách trung tâm thành phố Thanh Hóa 6 km với  năng lực thông qua 300.000 tấn/năm, các tàu trọng tải 600 tấn cập cảng an toàn. Đặc biệt cảng biển nước sâu Nghi Sơn (huyện Tĩnh Gia) đã được đầu tư xây dựng cầu cảng số 1 đón các loại tàu sức chở 1 vạn tấn ra vào và đang được đầu tư tiếp để xây dựng cầu cảng số 2 đón tàu 3 vạn tấn ra vào. Nghi Sơn là cảng biển  nước sâu lớn đã được quy hoạch với hơn 10 cầu cảng cho tàu 5 vạn tấn ra vào, với lượng hàng hóa thông qua hơn 10 triệu tấn/năm.

 Hệ thống điện

    Mạng lưới cung cấp điện của Thanh Hóa ngày càng được tăng cường cả số lượng và chất lượng, bảo đảm cung cấp điện ổn định cho sản xuất và sinh hoạt. Hiện tại điện lưới quốc gia đã  có 456 km đường dây điện cao thế; 3.000 km đường dây điện trung thế, 3.300 km đường dây điện hạ thế; 7 trạm biến áp 110/35/6-10 KV; 32 trạm trung gian; 1.807 trạm phụ tải. Năm 2002, điện năng tiêu thụ trên 887 triệu KW/h. Đến nay, 27/27 huyện, thị xã, thành phố với trên 90% số xã phường và 87% số hộ được dùng điện lưới quốc gia.

    Hệ thống Bưu chính - Viễn thông

    Tỉnh Thanh Hóa có Trung tâm Bưu điện tỉnh và 80 bưu cục tại các huyện, thị xã. Tổng đài ATZ-G5 và tổng đài điện tử TDX-1B (6.400 số), thực hiện liên lạc trong  nước và quốc tế nhanh chóng, thuận lợi. Hệ thống vi ba và cáp quang cho phép mở rộng và sử dụng các phương tiện viễn thông hiện đại như Telex, Fax và Internet phục vụ thông tin liên lạc trong nước và quốc tế. Đến năm  2002, có 574 xã, phường đã có điện thoại, bình quân 2,21 máy điện thoại/100 người dân.

    Hệ thống cấp nước
    Hiện nay các thành phố, thị xã và nhiều thị trấn đã có nhà máy nước, 60% dân số  nông thôn và 80% dân số thành thị đã được dùng nước sạch. Bên cạnh Nhà máy Nước Mật Sơn công suất 20.000m3/ngày, tỉnh đã triển khai  xong dự án cấp nước sạch và vệ sinh môi trường thành phố Thanh Hóa - Sầm Sơn  với công suất 20.000m3/ngày đêm, bảo đảm đủ cấp nước sạch  cho thành phố Thanh Hóa, thị xã Sầm Sơn và các Khu công nghiệp Lễ Môn, Đình Hương. Đồng thời  đang xây dựng nhà máy cấp nước cho khu công nghiệp Nghi Sơn.

Ý kiến bạn đọc

Gửi ý kiến của bạn